Close

June 30, 2017

Thưởng trà theo truyền thống Việt nam

thuong-tra-truyen-thong-viet-nam

Đất Việt là cái nôi sinh trưởng của cây trà và người Việt biết dùng trà làm thức uống thông thường, lễ phẩm cúng tế, dâng tặng, ban thưởng từ ngàn năm nay…

Vào thời Đường (619-907) các vị cao tăng ở Giao Châu thường được mời sang kinh đô Trường An (Trung Quốc) thuyết giàng kinh Phật. Giới Văn, thi nhân Trung Quốc rất kính trọng và có giao tình thân thiết với các nhà sư Việt. Thơ từ xướng họa của họ còn lưu lại trong sử sách (xem Kiến văn Tiểu lục của Lê Quý Đôn – Toàn Đường Thi).

Qua việc giao lưu, truyền bá đạo Phật, có thể Trà Kinh của Lục Vũ đã được giới tăng sĩ phổ biến trong chùa chiền ở Giao Châu. Dần dần việc uống trà nâng lên thành sinh hoạt văn hóa, thú vui tao nhã di dưỡng tinh thần, tu tâm dưỡng tính.

Bước vào giai đoạn độc lập, tự chủ đầu tiên vua Đinh (970 – 979) dùng trà thơm đặc sản của nước Việt dâng cống vua Tống. Sang thời Lý (1010- 1225), Thiền sư Viên Chiếu dâng trà tiễn bạn đi xa:

Tặng quân thiên lý viễn
Tiếu ngã nhất trà bình

(Lúc anh lên đường đi xa ngàn dặm / Thật đáng cười khi tôi chỉ có một bình trà để tiễn đưa).

Ngày xưa chùa chiền thường tọa lạc ở núi đồi, thanh vắng nên trồng trà còn là nguồn lợi phục vụ đời sống:

Sơn tăng hoạt kế trà tam mẫu
Ngư phủ sinh nhai trúc nhất can.

(Thầy tu ở núi trồng ba mẫu trà làm kế sinh hoạt, Ông chài dùng một cần câu lo việc mưu sinh).

Triều Lê, Nguyễn Trãi (1380 – 1442) viết sách: An Nam Vũ Cống (Dư Địa Chi) ghi nhận tại Châu Sa Bôi (Quảng Trị) sản xuất loại trà lưỡi sẻ (tước thiệt ) thơm ngon nổi tiếng. Dương Văn An (1514-1591), dưới thời triều Mạc Quang Bảo, người nhuận sắc tác phẩm Ô Châu cận lục, có viết: “Trà ở huyện Kim Trà (nay là Hương Trà – Thừa Thiên Huế) tên gọi lưỡi sẻ (tước thiệt) trồng tại vùng đồi núi An Cựu giải khát, trừ phiên, chữa thủng, đứng đầu trăm loại thảo dược tính linh điệu”.

Danh sĩ Phạm Đình Hổ (768-1839) mô tả việc uống trà ở Bắc Hà như sau: “ta sinh trưởng đương lúc thịnh thời Cảnh Hưng. Các nhà quý tộc, công hầu, con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ. Có khi mua một bộ ấm chén trà phí tổn đến vài mươi lượng bạc… thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn mua cho được hiệu trà Chính Sơn, gởi tàu buôn đặt cho được ấm chén kiểu mới lạ… Lò, siêu, ấm chén lại chế ra nhiều kiểu thích dụng… Vĩ uống chè cốt cho nhỏ mỏng, khi pha mới nổi hương vị. Vòi ấm thẳng thì nước không đọng, mặt dĩa thẳng thì đặt chén không nghiêng. Đế lò dầy mà lổ thưa thì than lửa không bốc nóng quá. Lòng ấm siêu lối lên và mỏng thì sức lửa dễ thấu, chóng sôi… gần đây lại có chế tạo ra thứ siêu đồng bằng dùng siêu đất nung pha chè tốt hơn”. (Vũ Trung tùy bút).

Nhà bác học Lê Quý Đôn, năm 1775, vào tiếp quản Phú Xuân (Huế) tả cảnh uống trà thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong: “ Binh lính cũng đều ngồi chiếu mây, có gối dựa. Bên cạnh đặt lư đồng, pha chè Tàu ngon để uống, dùng chén sứ bịt bạc, ống nhổ bằng thau”. (Phủ biên tạp lục).

Cao Bá Quát (1809 – 1854) bày tỏ quan niệm thưởng trà của mình qua bài Vị minh tiểu kệ:

Chọn bạn chọn bề ngoài,
Không thấy điều hẳn hoi
Uống trà có ướp hoa,
Biến mất hương trà rồi
Sáng sớm múc nước giếng
Lửa nhỏ nắm than rời
Không khói cũng không bụi
Rửa tay khề khà ngồi
Nếm mùi cốt thực chất
Không cần thêm vị ngoài
Chờ chút vì của hiếm
Lừa dối mũi ta hoài
Người đẹp không ở áo
Thơ hay thường ít lời
Kệ này hãy ghi nhớ
Chứng quả việc trên trời

(Vũ Thế Ngọc dịch)

Thời cận đại, nhà văn Nguyễn Tuân (1910 – 1987) viết truyện Chén trà trong sương sớm tả việc thưởng trà: “La liệt trên chiếu cói cạp điều. Cụ ấm đã bày lên đấy bộ khai trà, ống nhổ, ấm đồng và hỏa lò đất. Cái điếu bát vẽ mai hạc kêu lên một hồi rất giòn, rất đều… cụ khẻ nâng vuông vải tây điều phủ trên khay trà gỗ trắc có chân quỳ. Nhẹ nhàng khoan thai. Cụ ấm nhắc cả dĩa dầm, chén tống, chén quân ra khỏi lòng khay. Đến lúc tới cái ấm con chuyên trà thì cụ kềnh càng hơn. Cụ ngắm nghía mãi chiếc ấm màu đỏ da chu bóng không chút gợn. Dáng ấm làm theo hình quả sung… Trên chiếc hỏa lò đế không, cụ đặt thêm một ấm cò bay khác…”

Qua các cứ liệu chính xác nêu trên chúng ta thấy rằng từ xưa đến nay, tại Việt Nam chưa từng nâng việc uống trà thành “trà đạo” như ở Nhật Bản, cũng khác với kiểu cách thưởng trà của người Trung Quốc từ triều Thanh về sau.

Người Việt xem trà là thú tao nhã như cầm, kỳ, thi, họa, để di dưỡng tinh thần. Thời Lý, Trần dùng trà tươi hay bánh trà khô nấu trong nồi lớn rồi chế vào bát để uống. Từ triều Lê, Nguyễn về sau loại trà này chỉ dành cho giới bình dân, riêng vua chúa, từng lớp quyền quý ưa dùng trà rời hòng sấy khô nhập từ Trung Quốc sang gọi là trà Tàu, như Chính Sơn, Long Tỉnh, Bảo Vân… hoặc trà mạn ướp sen, trà tuyết Tân Cương của miền Bắc Việt Nam:

Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà mạn hảo, ngâm nôm Thúy Kiều

Nói về trà cụ theo truyền thống Việt Nam, chúng ta không thể không nói đến:

Ấm trà: dùng loại ấm sứ hoặc ấm đất Nghi Hưng được người xưa xếp hạng: thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thân. Tùy ít hay nhiều người uống trà mà chọn ấm độc ấm (một người uống), song ấm (hai người uống), quần ấm ( ba hay bốn người uống).

Bộ chén trà: chế tạo tại Cảnh Đức Trấn gồm chén tống đặt trong dĩa dầm, ba hay bốn chén quân đặt trong dĩa bàn

Từ thế kỷ XVII – XIX, tầng lớp quyền quý giàu sang nước ta thường gửi kiểu cách qua các lò sứ danh tiếng ở Cảnh Đức Trấn đặt làm riêng đồ dùng, trong đó có trà cụ. Người sành điệu cầu kỳ phải sắm đủ bốn kiểu ấm chén thưởng trà theo bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với đề tài trang trí, thơ văn do tự mình sáng tác hay chọn lựa cho phù hợp. Ngoài ra nhà buôn của Trung Quốc cũng tìm hiểu thị hiếu của người Việt từng miền Bắc, Trung Nam rồi chế tạo ấm, chén bình thường mang qua bán. Pha trà rất kỵ dùng ấm, chén bằng kim loại. Thích hợp nhất nên dùng ấm chuyên bằng đất Nghi Hưng và chén bằng sứ Giang Tây.

Khay trà : hình chữ nhật hay hình vuông làm bằng gỗ quý chạm khắc hoa văn,cẩn xa cừ. Loại đặc biệt làm bằng tre già , đồi mồi, ngà voi. Kiểu cách khác nhau, loại chân quỳ dạ cá hoặc chân thấp thành lựu, bàn toán tùy theo sở thích.

Kỷ trà: là cái bàn nhỏ, chân cao, kiểu cách thanh nhã để bày khay, ấm, chén. Người thưởng trà ngồi ghế tựa quanh bàn. Nếu kỳ trà chân thấp thì đặt trên sập hoặc ván ngựa để bày đồ thưởng trà.

Hỏa lò, siêu đun nước: có nhiều kiểu dáng làm bằng đồng hoặc bằng đất trong nước hay nhập từ Trung Quốc về. Kiểu siêu có tay cầm thường gọi là ấm cò bay.

Nước pha trà: tốt nhất là dùng nước suối, nước sông thượng nguồn, xa cách vùng dân cư đông đúc, mộ địa. Kế đến là nước giếng đá ở đồi núi cao. Ở Huế, ngày xưa thường dùng nước sông Hương khoảng trước đền Ngọc Trản (Hòn Chén), nước giếng Thanh Phương (chùa Giác Hoàng), giếng Hàm Long (chùa Báo Quốc), giếng Cam Lộ (dưới núi Tùy Vân).

Pha trà phải dùng nước sôi già đúng 100 0C. Để nguội bớt còn khoảng 90 đến 95 0C, pha các loại trà hồng như Thiết Quan Âm, Thiết La Hán, Ô Long… (Trung Quốc) hoặc trà mạn ướp sen (Việt Nam) pha các loại trà xanh như Long Tỉnh, Sư Phong, Thiên Vụ… (Trung Quốc), hay trà Thái Nguyên, Bảo Lộc nước nóng từ 850C. Một ấm trà chỉ nên chế từ 2 đến 3 lần. Không nên dùng trà ngâm trong ấm lâu đã nguội lạnh.

Người Việt thưởng trà vào buổi sớm mai hay lúc đêm thanh cảnh vắng, một mình đối bóng suy nghiệm thế thái nhân tình. Có khi cùng với bạn tâm giao, tri âm, tri kỷ bàn chuyện văn chương kim cổ, suy thịnh việc đời. Nhìn bộ đồ trà ký kiểu là đoán biết được giai tầng xã hội, tâm ý, trình độ của chủ nhân. Chọn bộ đồ trà làm tặng phẩm, là gửi gấm tình cảm lời cầu chúc tốt lành thích hợp đến người nhận. Biết bao biểu tượng, điển tích, lịch sử, thi họa dùng làm đề tài trang trí cho đồ trà qua các thời đại…

Người nâng chén trà trong tay cảm nhận sự đổi thay của thời tiết bốn mùa. Nhìn sắc nước, ngửi hương thơm, nếm đặc vị, từ đó biết xuất xứ các loại danh trà trong hay ngoài nước. Lúc cao hứng cất giọng ngâm nga thơ phú của cao nhân, danh sĩ tăng thêm sản khoái tinh thần. Mở đầu một ngày như vậy thú vị, lành mạnh biết bao ■

TRẦN ĐÌNH SƠN | Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *